TTS pháp lý: Trần Quế Anh
Trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, pháp luật Việt Nam cho phép áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Đây là một công cụ quan trọng nhằm ngăn chặn thiệt hại không thể khắc phục, bảo toàn chứng cứ hoặc tài sản liên quan đến vụ án. Dưới đây VLM sẽ phân tích về các biện pháp này và thủ tục yêu cầu áp dụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (BLTTDS 2015).
1. Biện pháp khẩn cấp tạm thời là gì?
Theo Điều 111 BLTTDS 2015, biện pháp khẩn cấp tạm thời là các biện pháp do Tòa án áp dụng theo yêu cầu của đương sự hoặc trong một số trường hợp nhất định, nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án hoặc thi hành án.
Các biện pháp này thường được áp dụng trong các tranh chấp thương mại khi có nguy cơ quyền lợi của bên yêu cầu bị xâm phạm nghiêm trọng, tài sản bị tẩu tán hoặc chứng cứ bị tiêu hủy.
2. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời phổ biến trong tranh chấp thương mại
Theo quy định tại Điều 114 BLTTDS 2015, các Biện pháp khẩn cấp tạm thời mà Tòa án có thể áp dụng bao gồm:
– Kê biên tài sản đang tranh chấp: Được áp dụng để ngăn chặn bên liên quan chuyển nhượng, tẩu tán tài sản, đặc biệt trong tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, …
– Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng: Thường được áp dụng trong các tranh chấp tài chính, nhằm bảo đảm nghĩa vụ thanh toán.
– Phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ: Áp dụng khi tài sản đang được bên thứ ba giữ, nhằm bảo đảm không bị thất thoát.
– Cấm chuyển dịch quyền sở hữu tài sản: Ngăn chặn hành vi bán, cho thuê hoặc chuyển nhượng tài sản đang tranh chấp.
– Cấm thay đổi hiện trạng tài sản: Bảo đảm tài sản tranh chấp không bị sửa đổi hoặc hủy hoại.
– Buộc thực hiện một số hành vi:
Ví dụ: buộc một bên cung cấp hàng hóa hoặc thực hiện hợp đồng trong trường hợp cấp bách.
– Cấm hoặc buộc thực hiện một số hành vi nhất định đối với người có nghĩa vụ:
Áp dụng để ngăn chặn hành vi vi phạm hợp đồng hoặc nghĩa vụ đã cam kết.
3. Thủ tục yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Theo Điều 133 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ án có thẩm quyền xem xét và ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Theo Điều 111 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Người yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình.
Trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc người thứ ba, thì phải bồi thường.
Cần lưu ý, đối với một số biện pháp khẩn cấp tạm thời, người yêu cầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm nhằm bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng và có thể phát sinh thiệt hại, tổn thất.
Thủ tục yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định chi tiết tại các điều từ Điều 133 đến Điều 136 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Cụ thể như sau:
Trường hợp Tòa án nhận đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước phiên tòa
Bước 1: Nộp đơn yêu cầu kèm các chứng cứ chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
Bước 2: Tòa án xem xét có áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hay không
Trường hợp Tòa án nhận đơn yêu cầu trước khi mở phiên tòa thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải xem xét, giải quyết. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, Thẩm phán phải xem xét có áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hay không.
Trường hợp Tòa án nhận đơn yêu cầu cùng với thời điểm nhận đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công ngay một thẩm phán thụ lý giải quyết đơn yêu cầu. Trong thời hạn 48 giờ, kể từ thời điểm nhận đơn yêu cầu, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và chứng cứ kèm theo để xác định yêu cầu khởi kiện có thuộc thẩm quyền thụ lý hay không. Nếu yêu cầu khởi kiện thuộc thẩm quyền thì Thẩm phán tiếp tục xem xét đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời như trường hợp Tòa án nhận đơn yêu cầu trước khi mở phiên tòa.
Nếu đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chưa đầy đủ nội dung quy định, Thẩm phán yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn.
Nếu chứng cứ chứng minh yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chưa đầy đủ thì Thẩm phán yêu cầu họ cung cấp, bổ sung tài liệu, chứng cứ trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm nhận được yêu cầu của Thẩm phán.
Thẩm phán cũng có thể hỏi thêm ý kiến của họ. Thẩm phán có thể yêu cầu người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trình bày ý kiến trước khi ra quyết định, nếu việc trình bày đó bảo đảm cho việc ra quyết định đúng đắn, và không làm ảnh hưởng đến việc thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Bước 3: Tòa án ra quyết định áp dụng hoặc từ chối áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Nếu Thẩm phán chấp nhận yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
(i) Trường hợp không cần áp dụng biện pháp bảo đảm: Thẩm phán ra ngay quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
(ii) Trường hợp phải áp dụng biện pháp bảo đảm: Thẩm phán buộc người yêu cầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm. Ngay sau khi nhận được chứng cứ chứng minh người yêu cầu đã thực hiện biện pháp bảo đảm, Thẩm phán ra ngay quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Nếu Thẩm phán từ chối yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Thẩm phán phải ra thông báo bằng văn bản và ghi rõ lý do.
Trường hợp Hội đồng xét xử nhận đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tại phiên tòa
Hội đồng xét xử xem xét, thảo luận, giải quyết tại phòng xử án, tùy trường hợp mà Hội đồng xét xử giải quyết như sau:
Nếu chấp nhận yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và người yêu cầu không phải thực hiện biện pháp bảo đảm thì Hội đồng xét xử ra ngay quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
Nếu có căn cứ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và người yêu cầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm thì Hội đồng xét xử ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay sau khi người đó xuất trình chứng cứ đã thực hiện xong biện pháp bảo đảm;
Nếu tài liệu, chứng cứ chứng minh cho sự cần thiết áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chưa đầy đủ, Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa trong thời hạn 02 ngày làm việc và đề nghị người yêu cầu cung cấp bổ sung chứng cứ;
Nếu không chấp nhận yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, thì Hội đồng xét xử phải thông báo ngay cho người yêu cầu tại phòng xử án và phải được ghi vào biên bản phiên tòa.
Nếu bạn cần Tư vấn hoặc Hỗ trợ Dịch vụ trọn gói, vui lòng liên hệ với VLM Law Firm thông qua các kênh sau:
- Số điện thoại: 0977 364 568 (có thể nhắn trên Zalo)
- Đến trực tiếp tại Văn phòng: 14 Điện Biên Phủ, Phường Gia Định,Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hoặc bạn BẤM VÀO ĐÂY để điền thông tin, VLM Law Firm sẽ gọi lại cho bạn nhé!