TTS pháp lý: Lê Thị Ngọc Linh
Hiện nay, Luật Trọng tài thương mại 2010 đã quy định rõ các điều kiện để điều khoản thỏa thuận trọng tài có hiệu lực. Nhiều doanh nghiệp chưa hiểu rõ đến việc soạn thảo điều khoản trọng tài, dẫn đến nội dung không rõ ràng, thiếu sự đồng thuận hoặc vi phạm quy định pháp luật, khiến thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu.
Vậy điều khoản thỏa thuận trọng tài phải đáp ứng các điều kiện gì để có hiệu lực?

1. Thỏa thuận trọng tài là gì?
Theo khoản 2 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại 2010 (Luật TTTM), “thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh”.
2. Điều kiện để thỏa thuận trọng tài có hiệu lực
a. Hình thức thỏa thuận trọng tài
Đầu tiên là thỏa thuận trọng tài phải đáp ứng đầy đủ quy định của pháp luật về mặt hình thức. Cụ thể như sau[1]:
– Thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng.
Điều khoản trọng tài trong hợp đồng: Được các bên đồng thuận và ghi nhận trực tiếp trong hợp đồng chính.
Thỏa thuận riêng: Là văn bản độc lập, thường được ký kết sau khi phát sinh tranh chấp hoặc trong trường hợp các bên muốn bổ sung thỏa thuận trọng tài vào một hợp đồng đã ký mà không có điều khoản trọng tài.
– Thoả thuận trọng tài phải được xác lập dưới dạng văn bản. Các hình thức thỏa thuận sau đây cũng được coi là xác lập dưới dạng văn bản bao gồm:
+ Thoả thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật. Các bên linh hoạt trong việc giao kết thỏa thuận trọng tài mà không cần gặp mặt trực tiếp.
+ Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên. Các bên có thể giao tiếp qua các văn bản (ví dụ: thư tay, biên bản làm việc), giúp giảm tính cứng nhắc trong cách thức thể hiện ý chí của các bên, tạo điều kiện thuận lợi để thỏa thuận trọng tài được ghi nhận.
+ Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên, từ đó tăng tính xác thực và an toàn pháp lý, đặc biệt hữu ích khi các bên muốn có bằng chứng rõ ràng về ý chí thỏa thuận.
+ Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác; tạo sự liên kết giữa các tài liệu liên quan đến giao dịch và thỏa thuận trọng tài, phù hợp với thực tiễn giao dịch quốc tế và nội địa.
+ Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thoả thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận. Đây là điểm mới, nhằm xác nhận sự tồn tại của thỏa thuận trọng tài ngay cả khi không có văn bản cụ thể, giúp bảo vệ quyền lợi bên khởi kiện.
b. Thỏa thuận trọng tài không thuộc trường hợp vô hiệu
Thỏa thuận trọng tài không được thuộc bất kỳ trường hợp bị vô hiệu nào sau đây[2]:
(i) Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài quy định tại Luật TTTM .
Theo đó, thỏa thuận trọng tài chỉ có hiệu lực khi tranh chấp phát sinh thuộc thẩm quyền của Trọng tài bao gồm các trường hợp:
- Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.
- Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại.
- Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài.
(Thẩm quyền giải quyết của Trọng tài thương mại)
(ii) Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Cụ thể là người xác lập thỏa thuận trọng tài phải là người đại diện theo pháp luật của các bên tranh chấp hoặc là người được ủy quyền một cách hợp pháp để thực hiện việc xác lập thỏa thuận.
(iii) Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự.
(iv) Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 Luật TTTM.
(v) Một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu.
Các chủ thể tham gia xác lập hợp đồng hoàn toàn không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép khi tham gia xác lập thỏa thuận. Hiểu rộng hơn chính là sự tự nguyện về việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại. Các bên phải thật sự hiểu biết về Trọng tài thương mại, không bị các chủ thể khác tác động hay đe dọa, cưỡng ép dẫn đến việc lựa chọn phương thức này.
(vi) Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật
c. Thỏa thuận trọng tài không thuộc trường hợp không thể thực hiện được
Điều 4 Nghị quyết 01/2014 ngày 20/03/2014 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao về Hướng dẫn thi hành một số quy định Luật Trọng tài thương mại quy định các trường hợp thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được bao gồm:
– Các bên đã có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài cụ thể nhưng Trung tâm trọng tài này đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức trọng tài kế thừa, và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trung tâm trọng tài khác để giải quyết tranh chấp.
– Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà Trọng tài viên không thể tham gia giải quyết tranh chấp, hoặc Trung tâm trọng tài, Tòa án không thể tìm được Trọng tài viên như các bên thỏa thuận và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế.
– Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, Trọng tài viên từ chối việc được chỉ định hoặc Trung tâm trọng tài từ chối việc chỉ định Trọng tài viên và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế.
– Các bên có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài nhưng lại thỏa thuận áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác với Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm trọng tài đã thỏa thuận và điều lệ của Trung tâm trọng tài do các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp không cho phép áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác và các bên không thỏa thuận được về việc lựa chọn Quy tắc tố tụng trọng tài thay thế.
– Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng có điều khoản về thỏa thuận trọng tài được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn quy định tại Điều 17 Luật TTTM nhưng khi phát sinh tranh chấp, người tiêu dùng không đồng ý lựa chọn Trọng tài giải quyết tranh chấp.
Như vậy, điều khoản thỏa thuận trọng tài chỉ có hiệu lực khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện về hình thức, nội dung và sự đồng thuận, đồng thời không thuộc các trường hợp vô hiệu hoặc không thể thực hiện được nêu trên. Do đó, để thỏa thuận trọng tài đó có hiệu lực thì quý bạn đọc nên chú ý những nội dung mà VLM đã trình bày nêu trên.
[1] Điều 16 Luật TTTM
[2] Điều 18 Luật TTTM.
Nếu bạn cần Tư vấn hoặc Hỗ trợ Dịch vụ trọn gói, vui lòng liên hệ với VLM Law Firm thông qua các kênh sau:
- Số điện thoại: 0977 364 568 (có thể nhắn trên Zalo)
- Đến trực tiếp tại Văn phòng: 14 Điện Biên Phủ, Phường Gia Định,Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hoặc bạn BẤM VÀO ĐÂY để điền thông tin, VLM Law Firm sẽ gọi lại cho bạn nhé!
